Từ rất lâu, cụm từ “Sập gụ tủ chè” là câu cửa miệng, là quan niệm miêu tả đồ nội thất quan trọng luôn luôn phải có trong sắp đặt không gian chính của căn nhà gia đình người Việt xưa. Nó không chỉ có nơi thờ cúng, họp bàn gia đình, làng xã hay tiếp khách đàm đạo của những bậc “bề trên” trong dòng tộc mà còn thể hiện được địa vị xã hội, đẳng cấp của gia đình do cách thức, chất liệu, kích thước, độ cầu kỳ của chính nó.
Ông cha ta có câu “Nhà ngói cây mít – Sập gụ tủ chè” ý nói tới sự giàu sang, rủng rỉnh của chủ nhà. Chỉ những gia đình giàu sang, khá giả, địa chủ, vua quan mới sở hữu được một cái sập gụ. Chiếc sập càng đục khắc tinh vi, càng sang trọng thì càng thể hiện đẳng cấp của chủ nhân. Cặp đôi sập – tủ được đặt nơi sang trọng nhất trong nhà. Bên trên tủ chè đặt bàn thờ gia tiên thể hiện lòng biết ơn, ghi nhớ công lao của các người đã khuất. Thời nay, sập gụ tủ chè vẫn hiện hữu trong những không gian ở các công trình tôn giáo như chùa, đình, đền hay ở những nhà thờ dòng họ. Vẫn còn rất là nhiều gia đình có cổ truyền được truyền lại từ tổ tiên hay yêu vẻ đẹp của kiến trúc Việt xưa sử dụng trong nhà mình.
Tìm hiểu về lịch sử sinh ra, có nghiên cứu cho rằng “Sập” sinh ra trước tủ chè rất lâu, có liên quan đến việc thờ cúng, tưởng niệm có từ thời đế quốc Maurya tại Ấn Độ cổ đại, trong tầm từ thời điểm năm 250 – 233 trước Công nguyên. Hoàng đế Ashoka đã cho đặt một cái sập đá ngay dưới gốc cây Bồ Đề mà hơn 200-300 năm ngoái, Đức Phật đã đắc đạo tại đây. Chiếc sập được kính trọng gọi là Kim Cương tọa (Vajra Seat). Cách thức phụng thờ chiếc sập, một trong thâm tâm tín ngưỡng của Phật giáo lúc mới đầu và được coi như thánh tích. Hình ảnh xưa cho thấy những người sử dụng đạo quỳ gối cầu nguyện trước nó. Và cho đến bây giờ họ vẫn làm vậy.
Một quan điểm cho rằng sập là dòng hình thông dụng thời Hán, là vật để ngồi quỳ, kha khá thấp, thấy rất là nhiều trong những bức thạch họa tượng – huaxiang shi. Sập cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu Trung Hoa phỏng đoán nguồn gốc Tây vực của loại hình dân dụng này với tên thường gọi La Hán sàng 罗汉床. Sách “Điển cố văn học” chú giải “Treo tháp” là treo giường. Thực ra tháp và giường có tính năng khắc nhau, dù rằng ngoại hình cũng không không giống nhau nhiều. Tháp (榻 sập) căn bản là dùng để làm ngồi, tháp thời Ngụy Tấn chủ yếu dùng cho 2 người ngồi nên hình gần với chữ nhật. Khi sang tới Việt Nam, tháp từ từ phát triển hình vuông để nhiều người ngồi được hơn, sập thường để trước bàn thờ, ở gian chính, cũng không phải là nơi để ngủ qua đêm. Trong cuốn “Văn minh vật chất của người Việt”, Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng cho rằng sự xuất hiện sập gụ tủ chè ở các gia đình nông thôn có nguồn gốc từ thành phố (TP) khoảng cuối thế kỷ 19. Theo nghiên cứu của Lê Tạo (2011), trong tác phẩm “Di tích văn hóa nguồn lực đặc biệt cho phát triển du lịch Thanh Hóa” thì sập đá nhanh nhất ở Thanh Hóa có niên đại Thuận Tông thứ 11 (1389). Đây là chiếc sập đá ở thành nhà Hồ được cha Lục chuyển về đặt ở Phương đình Nhà thờ đá Phát Diệm.
Đền thờ vua Đinh, vua Lê hiện đạt kỷ lục về số lượng sập đá và sập gỗ. Trung Quốc thờ ngai không thờ sập, Việt Nam lại thờ cả sập lẫn ngai. Đặc biệt, lăng Quận Chân (Lê Đình Châu) năm Cảnh Hưng thứ 39 (1778) xã Ngọc Lĩnh huyện Tĩnh Gia có chiếc sập đá khá lớn, trên có đặt một cái ngai đá. Lăng Quốc Thái mẫu Trịnh Thị Ngọc Lung (1612 – 1706) ở thôn Thịnh Mỹ, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân là một trong các lăng mộ rất hiếm của những vương phi hoàng hậu có thờ sập đá. Mặt sập chạm chìm hình lục giác, phía chính diện, thành sập chạm nổi rồng cuộn trong mây lửa và lá cúc cách điệu (Trích – Trần Hậu Yên Thế).
Nguồn: Di sản đất nước đặc biệt. Đình Tường Phiêu. Lệ làng xưa và nay. NXB Dân trí.2022
Sập có thể được phân thành 2 loại, Sập thờ và Sập ngồi. Theo GS Trần Lâm Biền, diễn biến phát triển của loại hình sập thờ có những điểm lưu ý sau:
Đây là 1 loại hình gần như chưa tìm kiếm được từ thế kỷ 16 trở về trước. Vào giữa thế kỷ 17, chiếc sập thờ hiện tại được gọi là có niên đại nhanh nhất tìm thấy ở đình Phú Thượng thuộc quận Tây Hồ (thành phố Hà Nội). Sập có kích thước to hơn chiếc giường đôi thông thường chút ít, có độ cao khoảng 40cm hoặc cao hơn như tủ thờ. Về bố cục thật đơn giản, mặt lát ván sơn then, vòng quanh cũng chính là ván bưng kín. Đáng quan tâm ở sập này là những hình trang trí nổi với những rồng, phượng, hổ phù, cánh sen… nhất là hệ thống đao mác được chạm 1 cách hết sức mạnh, dứt khoát và như 1 chuẩn mực của nghệ thuật đương thời. Vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, một cái sập điển hình (to ngang sập gỗ hiện nay) làm vào đời Chính Hòa (1680-1705) bằng chất liệu đá ở trước cửa điện thờ chính điện vua Đinh (Hoa Lư, Ninh Bình). [Trần Lâm Biền (2007), Giáo trình Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam, Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam. tr.241]. Pho tượng Phật Tuyết Sơn ở chùa Tây Phương cũng được đặt trọng thể trên một cái sập gỗ. Sập đá trong không ít văn bản có nghĩa là chữ thạch sàng – là chiếc giường đá. Trong không gian hậu cung đền vua Đinh vua Lê, sập đá là nơi để ngự ngai thờ và tượng thờ.
Sập ngồi có khá nhiều ý nghĩa và tác dụng không giống nhau, có thể bằng gỗ hoặc bằng đá. Trong bức tranh Trê Cóc của dòng tranh Đông Hồ, chúng ta thấy hình một quan thái thú cá chép nằm trên sập. Dẫu rằng qua bức vẽ này chúng ta chẳng thể nào định rõ chuẩn xác đây là sập đá hay sập gỗ. Nhưng sập đã thành một biểu tượng của một địa điểm sang trọng và quyền uy. Có thể thấy trong không ít chẳng hạn khác như trong bức tranh Thầy đồ Cóc, thày đồ Cóc ngồi trên sập giảng bài. Bức tranh vẽ Nguyễn Siêu giảng học (1853) cũng vẽ thày đồ Nguyễn Siêu ngồi trên sập.
Có thể xưa hơn thế nữa, thoạt kỳ thủy, sập đá chính là nơi các bậc thủ lĩnh tù trưởng ngồi. Đây là giả thiết đầu tiên về công năng của sập đá. Rồi tới buổi đầu dựng nước, cung điện thành quách đơn sơ, ngai vàng các vị vua Đinh vua Lê có thể được để trên các sập đá như vậy này. Và sập đá đã thành biểu tượng cho uy quyền của nhà vua. Có hiểu như vậy, chúng ta mới tưởng tượng nổi một cái sập có S diện tích hơn 14m2 (sập nhà Hồ). Sập gỗ cũng không đơn giản chỉ đơn giản là cái giường gỗ. Người Việt đặt chiếc sập trước ban thờ sập cũng chính là nơi tiến hành các nghi thức thờ cúng. Ngày xa xưa, trong xã hội phong kiến, những người phụ nữ không được ngồi lên sập. Mặt sập là không gian uy quyền của các người đấng mày râu trong nhà, nơi ban bố ra những quyết định quan trọng, hoặc tiếp khách quý.
Ảnh: NAG Trung Phan
Nguồn: Hannamtv.vn
Ý kiến hiện tại của những làng nghề cổ truyền, Sập gụ hay có cách gọi khác là sập chân quỳ, tên không hề thiếu là sập chân quỳ dạ cá, sập thường được làm bằng gỗ gụ nên “Sập gụ” đã thành tên thường gọi chính thức cho bộ sập gỗ. “Chân quỳ” tượng trưng cho sức mạnh sự bền vững, được cách điệu tứ linh, tứ quý, “sập chân quỳ dạ cá”, với hình mẫu là cá chép, cá chép hóa rồng biểu trưng cho sự gan dạ, may mắn, thành công… Các cụ ông cụ bà ngày xa xưa thường đóng thêm một cái Văn kỷ (bàn nhỏ chân thấp) dùng cho việc uống nước, đàm đạo, đánh cờ,… Tủ chè theo một vài ý kiến được biến hóa từ sập thờ, tủ thờ, sau thời gian có thêm các tính năng khác. Tủ chè là chiếc tủ dùng để làm trưng bày đồ vật như bình rượu quý, bình trà hay cất giữ đồ quan trọng của gia đình để ngăn côn trùng hay bụi bặm. Đặc biệt, mặt trên của tủ còn được sử dụng là bàn thờ gia tiên và thường được đặt tại vị trí trọng thể. Cũng hệt như sập, tủ chè có thể được làm từ gỗ gụ, gỗ hương, gỗ lim, gỗ mun, gỗ gõ,… Trong đó, gỗ gụ được sử dụng phổ biến nhất nhờ tính chất gỗ tốt, không bị mối mọt, để càng lâu càng bóng đẹp. có thể làm bằng gỗ lim, gỗ hương, nhưng phổ biến nhất vẫn chính là gỗ gụ. Sập gụ tủ chè Thế nên người xa xưa hay gọi chung sập gỗ là sập gụ. Bộ sập gụ – tủ chè trở thành bộ đôi hoàn mỹ, song hành cùng nhau. Nơi đặt sập tủ tốt hơn hết là gần cửa chính để đón sinh lực, sát tủ chè (tủ thờ) dựa tường (Nhưng không được chắn cửa ra vào) Không những thế, có thể trang trí thêm phòng tiếp khách bằng chậu cây kiểng nhỏ hoặc lọ hoa tươi để không gian nội thất góp phần sinh động, thân thuộc với thiên nhiên hơn.
Cấu trúc bề mặt hoàn thiện Sập được phân chia ra 3 loại chính: Sập gụ trơn, sập gụ đục và sập gụ khảm. Sập trơn: Được chế tác từ các khối gỗ đẹp, không rác, không cong vênh, không mối mọt. Sập đục: Đục nền trơn, lọng thủng đục kênh bong. Trước đây, sập được chế tác hoàn toàn bằng đục tay. Thời nay, có sự hỗ trợ thêm từ máy móc là kỹ thuật lọng máy bằng tay. Đối với các loại sập như sập mai rậm, sập ngũ phúc,… Trước hết sẽ được lọng máy, tiếp đến mới được đục tay. Sập khảm bao gồm hai loại khảm đấy là khảm trên nền sập tủ trơn và khảm trên các sập, các mảnh ốc xà cừ; ốc xà cừ càng già cỗi; càng lâu đời thì sẽ cho ra Màu sắc càng đẹp và sắc sảo. Mai đây, tủ chè được liên kết với sập cũng sẽ có kiểu dáng và cấu trúc bề mặt hoàn thiện tương đương, đồng bộ với sập.
Có khá nhiều hình tiết trang trí theo tích cổ hoặc trang trí cổ được chạm khắc tại quây sập hay yếm sập (dạ sập). Sập cho Vua đặt ngai thì sử dụng hình tiết tứ linh (Long – Ly – Quy – Phượng). Với sập thờ thì dùng hình tiết hổ phù, hoa sen, hoa dây, sóng, mây… sập ngồi gồm các bộ hoa văn: Mai – Điểu (hoa mai và chim), Mai – Mạc (hoa mai và con hạc), Lan – Bướm hay Lan – Điệp (hoa lan và bướm), Trúc – Hổ (trúc và hổ), Trúc – Yến (trúc và chim yến), Liên – Áp (sen và vịt), Tùng – Lộc (tùng và nai), Tùng – Hạc (tùng và hạc), Đơn – Trĩ (mẫu đơn và chim trĩ), Ngô đồng – Phụng (cây ngô đồng và chim phụng, Liễu – Mã (cây liễu và ngựa, Tiên – Tượng (cây chuối và voi), Kê – Cốc (gà và ngũ cốc), Đào – Két (cây đào và chim két), Đào – Ngưu (cây đào và trâu), Lựu – Thử ( lựu và chuột), Lê – Dương (lê và con dê), Nho – Sóc (nho và con sóc), Quả – Điệp (trái bầu và bướm), Gấu – Ó (con gấu và diều hâu), Nghiêu – Cò. 1 loại hình tiết đề tài tự do, đấy là “Hoa – Điểu” nghệ nhân có thể sắp đặt chim với 1 loại thảo mộc theo ý mình. Với tranh “sơn thủy” (núi và sông), có loại cảnh quan chính danh, xa xa là những ngọn núi, sông ngòi với lùm cây. Nếu cảnh quan có nhà và phần nào được kiểu – thức – hóa, có thể loại hoàn cảnh “sơn đình” (núi và nhà ở). Sau cuối là cảnh sinh hoạt, trong đó có sự linh động của những nhân vật như chiến binh, ông đồ, lữ khách, triết gai, những bà lớn hoặc thanh nữ duyên dáng, được đi vào loại “bách cổ” (một trăm đồ cổ”, ở đây người ta miêu tả lại tất cả các tích tuồng cổ hoặc những chuyện hoang đường ngày xa xưa bên Trung Quốc. Nếu nghệ nhân đi vào đời sống đồng áng, loại hoàn cảnh này thuộc thể loại “Ngư – Tiều – Canh – Mục” (ngư ông, tiều phu, người cày, mục đồng); hoặc thay đổi một chút “Ngư – Tiều – Canh – Độc” (ngư ông, tiều phu, người cày, học trò). Những đề tài ấy khi thực hiện tạo ra một tích tuồng nhỏ, một cảnh quan nhỏ.
Chất liệu bề mặt hoàn thiện cũng có khá nhiều loại như sơn son thếp vàng, khảm xà cừ, sập mộc, đánh vecni… Cách thức sập cũng có một vài dạng như sập 3 thành, sập tam diện, tứ diện… kích thước phổ thông của sập trung là một,6×2(m), sập đại là một,8×2,2(m)…
Sập gồm có các cấu kiện: Mặt sập và quây sập, được liên kết với nhau bằng mộng. Mặt sập cấu tạo bởi ván gỗ dầy 2cm, được bao phủ bởi bộ khuôn tranh dầy 6-7cm rộng 15-18cm. Có các loại: Mặt 1 lá, mặt sập được chế tác từ 1 tấm gỗ lớn. Mặt 2 lá được ghép từ 2 tấm gỗ lại với nhau (đây là dòng phổ biến nhất). Mặt 3 lá được ghép từ 3 tấm gỗ nhỏ lại với nhau. Quây sập gồm các chi tiết: cổ sập, dạ sập (yếm sập), chân sập, quả găng. Con kê chân sập có hình con rùa kích thước 13x13x6(cm), hoặc 12x12x8cm.
Dù rằng thời nay có tương đối nhiều sự chọn lựa khi trang trí NT bên trong phòng tiếp khách nhưng nhiều gia đình vẫn sử dụng những vật dụng mang dáng dấp xưa như sập gụ, tủ chè, tủ thờ, tràng kỷ… như phương pháp để lưu giữ lại những vẻ đẹp, văn hóa cổ truyền của người Việt.
KTS Trần Thị Thanh Thủy
(Bài đăng trên TCKT số 3-2024)
Tài liệu tham khảo
1. Hoa văn Việt Nam. Nguyễn Du Chi. NXB Hồng Đức.2019
2. Văn minh Việt Nam. Nguyễn Văn Huyên. NXB Hội nhà văn. 2016
3. Hệ thống đồ thờ cổ truyền trong từ đường ở miền Bắc Việt Nam. Bùi Bá Quân. Nguyễn Gia Khoa. Giang Mạnh Cầm. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 6, bậc nhất. 2020.
4. Di sản đất nước đặc biệt. Đình Tường Phiêu. Lệ làng xưa và nay. Lê Tiến Hải. Vũ Hồng Hải. NXB Dân trí.2022
5. Mỹ học của sức nặng – sập đá trong không gian tưởng niệm của người Việt. Trần Hậu Yên Thế.
Thêm nhiều thông tin hấp dẫn với BdsNhaDat.com.vn ✔
T.H